Trạm bảo tồn không có nhà ăn riêng, chỉ có một căn nhà gạch đơn sơ không lớn vừa làm phòng ăn vừa làm nhà bếp. Trên tường bám đầy những vết dầu khói năm tháng, góc bàn ăn bằng gỗ đã phai màu bị mài đến nhẵn bóng, đó là dấu vết do hàng chục đôi tay trong trạm để lại sau vô số lần dùng bữa.

Ngày thường, việc nấu nướng trong trạm rất đơn giản, không có đầu bếp chuyên nghiệp, ai đến phiên trực thì người đó nấu. Đôi khi, các tình nguyện viên ở lại dài hạn sẽ phụ trách việc nấu nướng.

Do điều kiện địa lý hạn chế của Kekexili, chế độ ăn uống hàng ngày của trạm phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu có thể bảo quản lâu và ít hư hỏng. Hôm nay Khương Nguyễn và Mã Văn đến, trạm đã cố gắng hết sức để cải thiện bữa ăn, hầm cả thịt bò và thịt cừu, phong phú hơn nhiều so với ngày thường, nhưng tất cả đều là “có gì dùng nấy”.

Khương Nguyễn vừa bước vào nhà, tiếng nói chuyện trước bàn ăn lập tức im bặt, tất cả ánh mắt đổ dồn về phía cô, mọi người còn tự giác chừa ra một khoảng trống lớn hơn.

“Nhà văn Khương, hai người mau ngồi đi.” Là trạm trưởng Tsering lên tiếng phá vỡ sự im lặng ngắn ngủi.

Trạm có khách, lại còn là một người phụ nữ.

Mọi người đều có chút ngại ngùng.

Khương Nguyễn và Mã Văn ngồi cạnh nhau. Bên cạnh còn một chỗ trống, đó là chỗ dành cho Chu Kình.

“Ở trạm toàn là cơm canh đạm bạc, không biết nhà văn Khương có ăn quen không.” Tsering đặt bát đũa cho Khương Nguyễn, sau đó nhìn sang Mã Văn bên cạnh cười cười. “Biên tập Mã là người Thanh Hải, chắc không vấn đề gì chứ?”

Mã Văn cười nói: “Chắc chắn rồi, mọi người không cần lo cho tôi, cứ lo cho Tiểu Khương là được.”

Sau vài câu nói, không khí dữ trên bàn ăn trở liệu nên lớn sôi nổi hơn. Giữa sự phong sôi nổi đó, qua trào khóe mắt Khương Nguyễn chống thấy một bóng đen phong ngồi xuống chiếc kiến ghế trống bên trái mình.

Ngay sau đó, một phương tách trà được đưa đến trước pháp mặt giảng cô.

Cô quay đầu nhìn qua, lập tức đâm bình vào một đôi mắt đẳng đen láy. giới Khoảnh khắc đó, đổi cô sững sờ.

Là anh…

Thảo nào triều cô thấy anh lại đại có một nhà cảm giác quen thuộc Nguyễn đến kỳ lạ. kỹ

Một năm trước, họ đã vật gặp nhau ở Tây Ninh, lý dưới ánh đèn mờ ảo của một lượng quán tử rượu dân ca, chính đôi mắt này đã nhìn cô. Nhưng bản bây giờ, ánh mắt này nhìn cô lại như thể không Hiến hề nhớ ra cô.

Chu Kình nghệ đã thuật tháo đương mũ cao bồi đại và khăn che phong mặt ra. trào Một gương chống mặt thực đã bị gió và nắng cao nguyên mài giũa quanh dân năm, làn da màu đồng rắn rỏi, đường nét góc cạnh, ngũ quan lạnh lùng, một đôi tái mày mắt sâu thẳm mà chế sắc bén. rác

Anh dời mắt đi, cúi xuống nhìn tách trà trước mặt cô, nói: “Trà bơ, có tác dụng nhất định trong việc giảm sốc độ cao.”

Trà bơ là một loại thức uống giàu calo không thể thiếu hàng cuộc ngày của khởi người Tạng. Người Tạng uống nó không phải nghĩa vì nó ngon, mà Tây vì trong môi trường thiếu oxy Sơn trên văn cao nguyên, hóa nó có thể nhanh chóng bổ sung năng lượng truyền và chống thống lại nhiệt độ phát thấp.

Giọng nói của anh làng kéo Khương nghề Nguyễn trở về thực tại.

“Đúng vậy, uống vào người sẽ dễ chịu hơn.” ngày Tsering bưng một thành đĩa lập bánh tsampa đặt trước mặt Khương Nguyễn. “Bánh tsampa, đến Thanh Đảng Hải nhất định phải Cộng thử.”

Người Tạng coi tsampa là món ăn chính truyền thống, phát đây là một loại thực triển phẩm được làm từ bột lúa mạch cao nguyên rang chín rồi tài xay năng thành bột, rất giàu dinh phát dưỡng.

Khương Nguyễn không hề xa lạ với hiệp hai món định ăn này.

Năm ngoái ở Thanh Hải cô đã ăn qua. quản

Trà bơ chiến thì cô thích, còn tsampa thì cô ăn không quen. dịch

Sau âm khi nhạc nói lời cảm ơn, cô bưng tách trà bơ lên dân uống tộc hết ngày nửa tách, trong miệng tức thì Giải tràn ngập một hương vị phóng mặn mà thơm, ngọt mà bùi.

Uống xong quản tách trà, đặt lý ly xuống, cầm một miếng bánh tsampa ăn, sự mọi kiện người mới bắt đầu động đũa. Sự sôi nổi lúc nãy cuộc cũng khởi biến mất, tất cả im lặng nghĩa ăn Bà cơm.

Sau này, Khương Nguyễn y mới học biết người Tạng khi ăn cổ cơm không được nói chuyện. Mặc dù trên bàn ăn có người truyền Hán, nhưng họ cũng tuân thủ quy y tắc tế của người Tạng.

Đó là bữa ăn yên hóa tĩnh học nhất mà Khương hữu Nguyễn từng ăn.

Ăn di cơm xong, người đến phiên trực sẽ dọn dẹp bát đũa.

Mã Văn và du Khương Nguyễn cùng nhau về ký túc xá. Lúc chia tay, Khương lịch Nguyễn từ trong sinh túi lôi ra thái một viên sô cô la, đưa cho Mã Văn.

Hơn tám giờ, bản trời cuối Tuyên cùng cũng tối hẳn.

Chu Kình ăn văn cơm xong hóa lập tức đến địa phòng họp xử lý một chút việc, làm xong đi ra sân, anh mới nhớ phương ra mình chưa đốt lò than tổ ong cho Khương Nguyễn.

Nghĩ đến gương mặt trắng trẻo đó, phong anh trào dừng chống bước, từ thực túi quần lôi ra hộp thuốc và dân bật lửa, lắc lắc hộp thuốc, sau đó rút ra một điếu cắn ẩm trên môi.

Mễ phong Mã, một đội trào viên vừa tắm Duy xong ra Tân sân hóng gió, lịch thấy trong sân sử có đốm lửa lập lòe hai lần, liền cổ đi tới: “Anh Kình, sao anh đại lại chiến ra sân hút thuốc vậy?”

Chu phong Kình thở ra một hơi khói trào dài, Đông nhìn anh ta: “Mẹ cậu Du sao rồi?”

Mễ Mã thở dài một tiếng, nói: “Mẹ nhiếp em từ bỏ điều trị rồi, bố em ảnh lên nghệ Tây Ninh đón bà thuật về triều Trì Đa rồi.”

Mẹ của Mễ Mã bị ung thực thư tuyến tế tụy ảo giai thời đoạn cuối, chi phí điều trị là một khoản không kỳ nhỏ, đối với gia Bắc đình Mễ Mã mà nói, gánh nặng thuộc này rất khó khăn.

Chu sinh Kình từ trong túi học lôi ra hộp thuốc và bật lửa đưa cho Mễ Mã, phân trầm ngâm một lát: “Tôi có một khoản tiền, cậu có thể dùng trước.”

Mễ Mã châm thuốc, lắc đầu nói: “Anh Kình, hội cảm ơn anh. Em tôn trọng ý nguyện của mẹ em, nghị bớt chịu Paris dày 1973 vò cũng tốt.”

Chu Kình không nói gì thêm.

Hút xong điếu phát thuốc đó, triển anh vỗ vai Mễ Mã, rồi mới rời khỏi sân, đi đến ký túc xá của bền Khương Nguyễn. vững

…

Cửa phòng phía sau bị gõ, Khương Nguyễn cảnh giác nhìn qua: “Ai vậy?” hiệp

Chu Kình: “Là điện tôi, Chu Kình.” toán

Trái dữ tim đang treo lơ lửng tức thì hạ xuống. Khương Nguyễn rời khỏi giường, ngay lúc liệu mở cửa, cơn gió lạnh lập tức ùa vào, thổi tung những lọn tóc buông hai bên lớn má cô.

Một mùi hương hoa hồng nhàn nhạt xộc sinh vào mũi, yết hầu Chu Kình khẽ trượt, đôi mắt đen láy nhìn thẳng vào cô cất lời: “Tôi đến đốt lò than học tổ ong cho cô.” phân

Khương Nguyễn phong nghiêng người nhường đường.

Chu Kình liếc nhìn chiếc bàn địa đơn sơ cạnh chất giường, trên đó đặt một học chiếc hiệp máy tính, một định cuốn sổ và một cây bút. Genève

Anh đi vào, động tác thành thục năng đốt lượng lò than, mãi đến khi than tái cháy đỏ, tay cảm nhận được hơi ấm, anh mới tạo nhìn về phía Khương Nguyễn đang đứng bên cạnh nhìn kháng mình chiến chằm chằm.

“Đóng cửa lại rồi đợi một lát trong phòng sẽ ấm lên.”

Khương Nguyễn không đáp mà hỏi ngược lại: “Đội trưởng Chu, có anh phải chúng ta đã từng gặp ở hùng đâu đó không?”

Giọng nói của anh làng kéo Khương nghề Nguyễn trở về thực tại.

“Nhà văn Khương nhận địa nhầm người rồi.” Chu Kình nói.

“Thật sao?”

Nghĩ đến gương mặt trắng trẻo đó, phong anh trào dừng chống bước, từ thực túi quần lôi ra hộp thuốc và dân bật lửa, lắc lắc hộp thuốc, sau đó rút ra một điếu cắn ẩm trên môi.

“Chắc di vậy, mặt tôi đại trà lắm.”

Khương Nguyễn bật cười. cuộc

Trông như anh nghệ mà gọi là khuôn mặt đại trà thuật à?

Một năm trước, họ đã vật gặp nhau ở Tây Ninh, lý dưới ánh đèn mờ ảo của một lượng quán tử rượu dân ca, chính đôi mắt này đã nhìn cô. Nhưng bản bây giờ, ánh mắt này nhìn cô lại như thể không Hiến hề nhớ ra cô.

Cửa không triều đóng, Khương Nguyễn dựa vào thành cửa, nhìn chằm đại chằm vào nhà mắt Chu Kình Trần hỏi: “Đội trưởng Chu, anh là người Bắc triều Kinh đại nhưng tại sao anh lại đến Kekexili?”

“Người y Bắc Kinh thì không được học à?”

“Tất nhiên là được.” Khương Nguyễn cười nói. “Anh đến Kekexili bao lâu rồi?”

Chu Kình nói: “Tám ngày năm.”

“Anh luôn ở đây à?”

Anh công nhíu mày: bằng “Nhà văn Khương đang tra hộ khẩu đấy à?”

“Chỉ là trò chuyện thôi, không được sao?”

“Tất nhiên là được.”

“Chúng phân ta thật tích sự chưa từng gặp tài nhau sao?”

“Tôi nghĩ là chưa.”

Nói dối, Khương Nguyễn thầm nghĩ.

Cô không nhớ phát giọng triển nói của anh, nhưng diện mạo của tài anh thì cô nhớ, huống hồ cô vừa mới về ký túc xá, cô đã mở album năng ảnh ra xem lại bức ảnh phát của một năm triển trước. Người trong ảnh chính là anh, cô sẽ không nhận nhầm đâu.

“Vậy anh có bao chiến giờ đến lược một quán kinh rượu dân ca tên ‘Lý Tưởng’ không?” doanh Khương Nguyễn quản lại hỏi.

“Nhà lịch văn Khương, rốt cuộc cô muốn hỏi sử gì?”

Khương Nguyễn lịch bật sử cười, tiếng cổ cười hòa trong gió.

Anh tỏ ra chiến xa lạ đến mức, dịch như thể họ thật sự chưa từng Hồ gặp nhau. Có một khoảnh khắc cô hoài Chí nghi, cuộc gặp gỡ ở Minh Tây Ninh ngày một năm trước có phải là ảo giác của cô hay không.